Khoản 3 Điều 159 Bộ Luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 quy định như sau: “Trường hợp trong vận đơn theo lệnh không ghi rõ tên người phát lệnh trả hàng thì người giao hàng mặc nhiên được coi là người có quyền đó”. Như vậy, nếu vận đơn theo lệnh có ghi rõ tên người phát lệnh trả hàng nhưng không được ký hậu (endorse) thì người cầm giữ vận đơn này có quyền khởi kiện người vận chuyển hay không? Vụ kiện dưới đây (UCO Bank kiện Golden Shore Transportation Pte Ltd) để bạn đọc tham khảo về vấn đề nêu trên.
Golden Shore là chủ tàu/người vận chuyển của tàu có tên là Asian Pioneer. Tàu đã cấp 4 bộ vận đơn cho 4 lô hàng gỗ tròn (round logs) vận chuyển từ Đông Malaysia đến Kandla, Ấn Độ. SOM International (gọi tắt là SOM) là một công ty Singapore đã mua gỗ của nhiều công ty Malaysia (người giao hàng – shipper ghi trên 4 bộ vận đơn). SOM là khách hàng của UCO Bank (gọi tắt là UCO) – ngân hàng đã phát hành thư tín dụng (L/C) cho 4 lô hàng nêu trên. Tất cả các vận đơn đều ghi “ký phát theo lệnh của UCO” (made out to order of UCO).
Golden Shore đã làm một việc theo đề nghị của SOM mà UCO không được biết. Đó là cấp “vận đơn có thể thay đổi” (switched bill of lading) có ghi SOM là người giao hàng (shipper) dựa vào lời hứa của SOM là sẽ thu hồi và nộp các bản vận đơn gốc cho Golden Shore. SOM đã ký hậu các “vận đơn có thể thay đổi” cho nhiều người mua hàng và những người cầm giữ các vận đơn này (vận đơn có thể thay đổi) đã nhận hàng do Golden Shore giao.
(Người dịch bài này, nhân đây, xin nói về “switched bill of lading”. Trong thương mại quốc tế, phần nhiều không phải người bán hàng là người sản xuất và người mua hàng là người tiêu thụ. Mua đi bán lại là chuyện bình thường. Mua bán dẫn đến việc thanh toán và thường dùng ngân hàng làm người trung gian kiểm tra quá trình thực hiện hợp đồng mua bán thông qua thư tín dụng (Letter of Credit, viết tắt là L/C). L/C thể hiện những điểm chủ yếu của hợp đồng mua bán, và trong bộ chứng từ thanh toán, có thể nói, vận đơn là chứng từ quan trọng nhất. Do mua chỗ này, đem bán chỗ khác, ví dụ, hợp đồng mua bán theo điều kiện CFR/CIF có thể không quy định cảng bốc hàng (loading port), người bán có thể mua hàng nổi (afloat cargo) để giao), có khi qua vài ba công ty trung gian, một số chi tiết trên bộ vận đơn cấp tại cảng bốc hàng không còn phù hợp với L/C tiếp theo hoặc với một số điều khoản khác trong hợp đồng mua đi bán lại. Nếu không thay đổi, nhiều khi không thể tiến hành mua bán và thuê tàu biển để vận chuyển hàng hóa. “Switched B/L” (S/B) bao gồm bất kỳ sự thay đổi nào trên bộ vận đơn gốc (Original B/L), như tên người giao hàng (shipper), tên cảng bốc, cảng dỡ… có trường hợp thay đổi cả mẫu vận đơn. Theo pháp luật hàng hải, nếu chủ tàu/người vận chuyển đã chấp nhận sự thay đổi về bất kỳ chi tiết nào trên vận đơn gốc thì họ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về thay đổi đó. Với tình hình thị trường mua bán hàng hóa, vận chuyển hiện nay, khi mà “Switched B/L” không còn xa lạ trong giao dịch thuê tàu biển vận chuyển hàng hóa thì không ít chủ tàu/người vận chuyển, nếu không muốn bỏ lỡ cơ hội có hàng vận chuyển, thường tìm cách vận dụng khéo léo và thận trọng “kỹ thuật” này để bảo vệ quyền lợi của mình ở mức cao nhất có thể. Một số dạng thường gặp của “S/B” là thay đổi tên người giao hàng, cảng bốc hàng, cảng dỡ hàng, ngày ký vận đơn).
Trở lại với vụ kiện trên đây, 4 bộ vận đơn và các chứng từ vận tải (shipping documents) đã được người giao hàng nộp cho Ngân hàng HSBC để thanh toán tiền hàng theo thư tín dụng. Người giao hàng đã không ký hậu vận đơn khi giao các bộ chứng từ cho ngân hàng. Đến lượt mình, HSBC cũng không ký hậu vận đơn cho UCO. Do đó, vận đơn mà UCO nhận được cũng không có ký hậu. UCO đã thanh toán bộ chứng từ theo thư tín dụng nhưng không được SOM hoàn trả tiền. UCO đã khởi kiện Golden Shore vì không trả hàng. Golden Shore làm đơn gửi Tòa án Singapore xin xác định về mặt pháp lý, đó là UCO có quyền khởi kiện theo các bản vận đơn gốc không. Golden Shore lý luận rằng vì người giao hàng không ký hậu vận đơn gốc cho HSBC khi họ giao dịch bộ chứng từ và HSBC cũng không ký hậu vận đơn cho UCO nên UCO không phải là người cầm giữ vận đơn hợp pháp.
Tòa ra phán quyết rằng theo Luật Vận đơn của Singapore năm 1994 (Singapore Bills of lading Act 1994) khi vận đơn thuộc quyền sở hữu (possession) của người nhận hàng mặc dù được chuyển qua người trung gian, người nhận hàng vẫn có quyền khởi kiện người vận chuyển như Phần (Section) 2(1)(a) nêu: “Theo quy định của phần này một người trở thành người cầm giữ vận đơn hợp pháp (bằng việc trở thành người cầm giữ vận đơn hoặc, tùy trường hợp, là người mà hàng được giao cho họ) phải là người có toàn quyền khởi kiện theo hợp đồng vận chuyển như thể là một bên của hợp đồng đó.” . Do đó, Tòa phán quyết rằng UCO là người cầm giữ vận đơn hợp pháp theo Luật Vận đơn 1994 và có quyền khởi kiện. Những bản vận đơn gốc là vận đơn theo lệnh (to order), có thể chuyển nhượng được (transferable) và vì vậy thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. Bản chất cố hữu (nature) của vận đơn được xác định vào ngày ký phát (issued) và không thay đổi dù có những tác động sau đó (in light of subsequent events). Việc chuyển giao vận đơn cho HSBC mà không ký hậu không làm cho vận đơn trở thành vận đơn không chuyển nhượng được (non-transferable). Một khi một người nhận hàng đã được định danh (named consignee) có vận đơn trong tay, thì người nhận hàng đó, theo Phần (Section) 5(2)(a) của Luật nêu trên, sẽ trở thành người cầm giữ vận đơn hợp pháp ngay cả khi vận đơn không có ký hậu của người giao hàng/người nhận hàng.
Cho đến nay, chưa thấy có quy định nào về vấn đề khi một người nhận hàng đã được định danh (named consignee) nhận vận đơn thông qua một ngân hàng thanh toán (negotiating bank) thì không thể áp dụng Phần (Section) 5(2)(a) của Luật nêu trên, hoặc nếu không có ký hậu thì người nhận hàng đã được định danh (named consignee) không có quyền khởi kiện theo vận đơn. Không có vấn đề gì đáng phải bàn cãi về mặt pháp lý nếu vận đơn trước hết được người giao hàng (shipper) chuyển cho ngân hàng trung gian mà không cần ký hậu (endorse), và ngân hàng trung gian cũng không ký hậu vận đơn để chuyển cho người nhận hàng trong khi người giao hàng (shipper) cũng không ký hậu và chuyển vận đơn cho bất kỳ ai. Luật Vận đơn của Singapore năm 1994, Phần (Section) 5(2)(a) quy định rằng tham chiếu trong luật này về người cầm giữ vận đơn có thể áp dụng, ngoài những vấn đề khác, cho người có vận đơn, bởi vì đó là người được nêu tên trên vận đơn và là người nhận của lô hàng mà vận đơn nêu.
Vấn đề ở đây là, một người được coi là người cầm giữ hợp pháp phải là người cầm giữ một cách “trung thực” (good faith). “Trung thực” ở đây có nghĩa là phải có hành vi “ngay thẳng”, “thật thà” (honest conduct). Người nhận hàng đã được định danh nhận vận đơn như thế nào và nhận của ai không quan trọng, miễn là họ nhận một cách “trung thực” như trong trường hợp cụ thể của vụ việc này. Mục đích của Luật này là: Chuyển quyền khởi kiện từ người người giao hàng (shipper) sang người trong phạm vi hoặc thuộc loại được xác định (specified categories of persons); Nhằm đẩy mạnh thương mại quốc tế; và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi quyền của bên thứ ba khiếu nại người vận chuyển. Tòa còn chỉ ra rằng, nếu chỉ nhìn vào những gì ghi trên vận đơn và theo quy định của những điều khoản nêu trên đó thì cũng không thực sự hợp lý. Cũng không được cho là phù hợp nếu chỉ xem xét ngân hàng đó là ngân hàng thu tiền hay ngân hàng thanh toán. Phán quyết của Tòa trong vụ Golden Shore có thể còn gây tranh cãi theo Luật Vận chuyển hàng hóa bằng đường biển của Anh năm 1992 (English Carriage of Goods by Sea Act 1992) – luật mà luật Singapore có tham khảo – luật được cho là không đề cập đến vấn đề này. Tòa Phúc thẩm chấp nhận rằng mặc dù vận đơn ngay từ đầu được ký phát theo lệnh của UCO nhưng người giao hàng có quyền để vận đơn ở dạng ký hậu (endorse) hoặc không ký hậu và chuyển những bản vận đơn gốc này đến ngân hàng. Người giao hàng có quyền lựa chọn sự thay đổi so với cách làm thông thường và họ đã lựa chọn cách không để vận đơn được ký hậu. UCO tiếp tục là ”người nhận hàng đã được định danh (named consignee)” và trở thành người cầm giữ vận đơn hợp pháp một khi vận đơn được chuyển đến họ.
(Theo tài liệu của Văn phòng luật quốc tế, Luân Đôn – International Law Office, London)
Ngô Khắc Lễ (giới thiệu và dịch)